Bành Bảo trang viết, trang đời ( Kỳ cuối)

Nhà báo Vũ Quang: Tiếp theo 20 bài viết mang tính lý luận về phim tài liệu trong năm 2013 của nhà biên kịch Nguyễn Hậu, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tiếp những bài viết của ông về một vài chân dung  nghệ sĩ điện ảnh nổi tiếng của đất nước.

Hy vọng trong năm mới Giáp Ngọ này, những cộng tác viên nhiệt thành của Daotaotruyenhinh.vn sẽ tiếp tục đồng hành cùng Ban biên tập, giúp cho website của chúng tôi thực sự là người Đồng hành cùng người làm truyền hình.

Nhân dịp năm mới, Ban biên tập xin bày tỏ sự biết ơn với những cộng tác viên nhiệt thành trong năm qua: Nhà thơ Anh Ngọc, nhà biên kịch Nguyễn Hậu, nhà báo Lê Phong, nhà báo Văn Đồng và các đồng nghiệp trong cả nước.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của nhà biên kịch, nhà báo Nguyễn Hậu về nhà biên kịch tài năng của điện ảnh Việt Nam Bành Bảo với tiêu đề ” Bành bảo trang viết, trang đời” kỳ cuối. Đây là bài viết đăng trong cuốn ” Nghệ sĩ điện ảnh Việt Nam”.

                                                                          Nhà biên kịch Bành Bảo

Tháng 7 năm 1964, sau khi tốt nghiệp bằng đỏ ở Liên Xô, Bành Bảo được phân công làm biên kịch và biên tập ở Xưởng phim truyện Việt Nam (sau này được đổi tên là “Xí nghiệp” rồi là “Hãng”). Ông cũng bắt đầu tham gia giảng dạy tại trường Điện ảnh Việt Nam (lúc đó ở hệ Trung cấp) và sau này, là trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội.

Năm 1967, cùng với Trần Vũ và Nguyễn Thụ, Bành Bảo viết kịch bản phim Khói, dựa theo truyện ngắn cùng tên của Anh Đức. Nhưng kịch bản đem được về giải Bông sen Vàng đầu tiên tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ I và Giải thưởng chính tại Liên hoan phim Karlovy Vary (Tiệp Khắc) lại là Đến hẹn lại lên, được Bành Bảo viết chung cùng Thạch Anh (tức Vương Đan Hoàn). Bộ phim thành công về nhiều mặt, được đánh giá cao ở cả trong và ngoài nước, đặc biệt đã góp phần phát hiện được Như Quỳnh – một tài năng điện ảnh sau này.

Kịch bản phim Chuyến xe bão táp (viết chung với Trần Vũ) có thể coi là bộ phim đấu tranh chống tiêu cực đầu tiên của điện ảnh Việt Nam, đã đoạt giải Bông sen Bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ IV, 1977. Tiếp đó là kịch bản phim Người chưa biết nói (Giải đặc biệt của Ban Giám khảo Liên hoan phim Quốc tế tại Đamát, Xi-ry, 1979) được viết cùng Bạch Diệp. Đây gần như là bộ phim đầu tiên được làm theo kiểu “đặt hàng” từ khâu kịch bản, theo yêu cầu của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

Tiếp nối thành công của Chuyến xe bão táp, Bành Bảo viết thêm Những người đã gặp, cũng vẫn do Trần Vũ làm đạo diễn, được giải Bông sen Vàng Liên hoan phim Việt Nam lần thứ V, 1980. Ngoài ra, còn có thể kể đến những Câu lạc bộ không tên (với Nguyễn Đỗ Ngọc và Lê Phương, 1980), rồi Ngọn tháp Hà Nội (kịch bản phim hợp tác với Cộng hòa dân chủ Đức) làm thành phim với nhan đề Những mảnh đời rừng v.v…

Công bằng mà nói, khi một bộ phim đã được làm xong, thật khó bóc tách ra được đâu là công lao của đạo diễn, diễn viên…, đâu là đóng góp và sáng tạo của riêng nhà biên kịch. Điều này cũng dễ hiểu, vì mỗi bộ phim đều là một sản phẩm mang tính tập thể, trong đó đạo diễn là người có vị trí, vai trò quan trọng nhất, và dù muốn hay không, thì từ kịch bản đến phim vẫn là cả một chặng đường dài, có thể có rất nhiều bổ sung và thay đổi. Nhưng, điều dễ nhận thấy ở Bành Bảo là, những kịch bản do ông đứng tên riêng hay viết chung với người khác, thường đạt tới trình độ cao cả về tư tưởng, nội dung, tay nghề cũng như nghệ thuật. Có được điều ấy, trước hết bởi vì Bành Bảo có một cái “phông” văn hóa vững vàng và một tri thức sâu rộng về nhiều mặt. Thêm vào đó, ông có lối làm việc nghiêm túc, công phu và cẩn trọng như một nhà khoa học thực thụ. Không bao giờ Bành Bảo bằng lòng ngay với những gì vừa lóe sáng trong đầu, mà ông luôn lật đi lật lại từng tình huống, vấn đề; chọn lựa từng câu chữ sao cho phù hợp; biết dồn nén những lượng thông tin nhiều nhất vào số lượng ngôn từ ít nhất. Mà muốn làm được như vậy, trước hết, Bành Bảo là một người rất giỏi nghề. Phải chăng cũng vì thế mà có người đã cho rằng “Dù thế nào chăng nữa, Bành Bảo vẫn là một trong những nhà biên kịch uyên bác nhất của nền điện ảnh cách mạng Việt Nam. Kịch bản ông viết ra không những vững vàng về mặt tay nghề mà còn đạt tới những giá trị sâu sắc về tình cảm và trí tuệ. Cái giỏi của ông là luôn biết lẩy ra những tình huống điển hình từ cuộc sống đời thường, và biết trình bày nó một cách thật trong sáng và giản dị như lẽ tự nhiên phải thế, không ngẫu nhiên, không áp đặt. Lại nữa, tính cho đến ngày hôm nay, có mấy ai trong các nhà biên kịch chúng ta dám tự hào biết sử dụng đến ba ngoại ngữ (sử dụng thành thạo kia đấy nhé!); vừa viết, vừa dịch, vừa làm báo và giảng dạy mà lĩnh vực nào cũng thành công …”

                                                                  Cảnh trong phim Đến hẹn lại lên

Tất nhiên, với một người như Bành Bảo, số lượng kịch bản được làm phim như vậy là hơi ít. Mặt khác, số đầu phim được sản xuất hàng năm, thời ấy cũng không nhiều. Điều đáng nói là chỉ với những gì được công bố ấy thôi, Bành Bảo đã lập kỷ lục không phải nhiều người đạt được: Giải thưởng Kịch bản hay nhất cho tác giả kịch bản Chuyến xe bão táp do Ban Giám khảo Liên hoan phim Việt Nam lần thứ IV tặng năm 1977; Giải thưởng Kịch bản hay nhất cho tác giả kịch bản Những người đã gặp do Ban Giám khảo Liên hoan phim Việt Nam lần thứ V tặng năm 1980; và Giải thưởng Kịch bản văn học loại A do Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội tặng cho tác giả kịch bản Những người đã gặp, năm 1982.

Không chỉ có những thành tựu trong lĩnh vực kịch bản phim truyện, Bành Bảo còn tham gia làm phim tài liệu với tư cách tác giả lời bình hoặc kịch bản của các phim, như Hội nghị chiến sĩ thi đua toàn quốc (1954); Bốn mùa hoa nở (1960); Qua cầu công lý (1975); Ngày hội điện ảnh (1979); Hồ Chí Minh – chân dung một con người, – Phim được giải Bông sen Vàng tại Liên hoan phim Việt Nam, lần thứ IX (1990), v.v…

Với cái nhìn sắc sảo, tinh tế của một nhà biên kịch giàu kinh nghiệm, Bành Bảo còn làm biên tập cho gần hai mươi kịch bản và phim, trong đó có nhiều phim đoạt giải qua các kỳ liên hoan, như Truyện vợ chồng anh Lực, Tội lỗi cuối cùng, Phản bội (phim tài liệu), Hy vọng cuối cùng, Khoảnh khắc yên lặng của chiến tranh, Đêm miền yên tĩnh, Truyện cổ tích cho tuổi 17, v.v… Ông luôn luôn biết phát hiện những gì thật sự mới mẻ trong từng kịch bản và người viết, đồng thời cũng tế nhị chỉ ra khiếm khuyết để mọi người khắc phục. Vì thế, có thể nói không ngoa rằng, bất kỳ kịch bản nào, nếu đã qua tay Bành Bảo làm biên tập, đều có sự biến đổi về chất. Hơn thế nữa, ông còn biết bảo vệ đến cùng ý kiến, quan điểm của mình. Nhiều tác giả kịch bản, nhất là những anh chị em trẻ, rất biết ơn Bành Bảo về điều đó. Chẳng hạn như trường hợp của Truyện cổ tích cho tuổi 17; đã từng có những lời lẽ xì xào về kịch bản này. Nhưng với tư cách Biên tập viên và Phó trưởng Xưởng làm phim III lúc đó, Bành Bảo đã “dẹp yên” được dư luận không hay và cả những nhận xét thiếu khách quan, đưa kịch bản vào sản xuất. Kết quả là phim đã đoạt giải Bông sen Vàng tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ VIII năm 1988.

Mặc dù bận nhiều công việc khác nhau, nhưng Bành Bảo vẫn dành thời gian cho dịch thuật, chủ yếu là từ tiếng Pháp và tiếng Nga. Ông làm việc này một cách vui vẻ và tự nguyện, xuất phát từ thực tế là một số người làm điện ảnh Việt Nam không biết ngoại ngữ; thêm được ít kịch bản hay tài liệu nào được dịch ra, là anh chị em trong ngành lại có thêm tài liệu tham khảo và học tập. Vì thế, các kịch bản phim của Liên Xô như Ôtenlô (1956); Vụ án mạng phố Đăng-tơ (1956); Đêm thứ mười hai (1956); Một tấn tuồng (1957); Người thứ bốn mốt (1957); Có một ông lão và một bà lão (1975), v.v… đã lần lượt ra mắt bạn đọc Việt Nam qua những bản dịch tài hoa của Bành Bảo. Ngoài ra, ông còn dịch Lời bạt cuối đời, một cuốn sách hồi ký – tâm sự về nghề nghiệp của E.Gabrilôvích (tên tiếng Nga của cuốn sách là Bốn phần tư), tham gia dịch, hiệu đính và chịu trách nhiệm xuất bản cuốn Lịch sử điện ảnh thế giới của Gióoc Xađun (Pháp) làm tài liệu giáo khoa cho cán bộ, giảng viên và sinh viên trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội.

Sau hàng chục năm làm công tác giảng dạy kiêm nhiệm, tháng 9 năm 1983, Bành Bảo được giao nhiệm vụ tuyển sinh, biên soạn chương trình đào tạo và chủ nhiệm lớp tu nghiệp biên kịch điện ảnh, với mục đích trong một thời gian ngắn sẽ bổ sung được vào đội ngũ biên kịch điện ảnh nước nhà những người có khả năng thực sự. Vì vậy, học viên của lớp được chọn lựa kỹ càng, đã có bằng đại học và tỏ ra có năng khiếu văn chương. Được sự quan tâm, phối hợp của các cơ quan có trách nhiệm, sự nhiệt tình của các giảng viên, nhất là thầy Bành Bảo và sự cố gắng của mỗi người, mô hình đào tạo ấy đã tỏ ra có hiệu quả. “Lớp biên kịch Bành Bảo” thu được kết quả mỹ mãn, nhiều người đã trở thành những cây bút quan trọng tại Hãng phim truyện Việt Nam, như Nguyễn Anh Dũng, Trịnh Thanh Nhã, Đinh Thiên Phúc, Bành Mai Phương, v.v… Số còn lại cũng phát huy được khả năng của họ trên lĩnh vực công tác mới.

Tháng 7 năm 1985, Bành Bảo được chính thức chuyển về trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội, đảm nhận chức vụ Chủ nhiệm khoa Biên kịch. Ông vẫn tiếp tục giảng dạy cho rất nhiều đối tượng khác nhau hai môn học rất quan trọng là Kịch học điện ảnh và Nghiệp vụ biên kịch. Trong thâm tâm, Bành Bảo muốn được chia sẻ hết vốn liếng kinh nghiệm và tri thức của ông cho những lớp hậu sinh, và bất kỳ ai đã từng học Bành Bảo cũng đều kính trọng ông về trí tuệ, tài năng cũng như cách làm việc nghiêm túc và khoa học. Học trò của ông giờ đây nhiều người đã thành danh, đoạt nhiều giải thưởng trong và ngoài nước, thuộc đủ các chuyên ngành, từ biên kịch, lý luận, đạo diễn, quay phim…, ở đủ các loại hình đào tạo, từ chính quy dài hạn đến chuyên tu, tại chức, v.v… Và cũng đã có người trở thành thạc sĩ, tiến sĩ; được tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú và làm cán bộ quản lý tại các Hãng phim hoặc Truyền hình.

Bành Bảo cũng đã từng viết một số tài liệu giáo khoa, như phần Phim truyện Việt Nam hình thành trong cuốn Sơ thảo Lịch sử Điện ảnh Cách mạng Việt Nam, Cục Điện ảnh xuất bản năm 1983; Toàn cảnh phim truyện Việt Nam, in trong cuốn 30 năm Điện ảnh Việt Nam, Viện Tư liệu phim xuất bản 1983; Đường đi của phim truyện Việt Nam (tiếng Pháp và tiếng Nga), Nhà xuất bản Ngoại văn, 1984, đồng tác giả với Hữu Ngọc. Bên cạnh đó là hàng loạt chương trình, giáo trình cho các Trường Điện ảnh Việt Nam, Trường Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội, v.v… Ngoài ra, Bành Bảo còn chủ trì hoặc tham gia nhiều đề tài, hội thảo khoa học về công tác đào tạo; viết nhiều bài phê bình, tiểu luận về văn hóa, nghệ thuật được công bố trên các báo và tạp chí trung ương và chuyên ngành, như Cứu quốc, Văn nghệ, Văn hóa nghệ thuật, Điện ảnh, Nhân dân … Năm 1989, Bành Bảo về hưu, nhưng ông vẫn tiếp tục viết báo, viết kịch bản và dạy học, đồng thời làm ủy viên Hội đồng chấm luận án Nhà nước cho luận án Phó tiến sĩ (nay gọi là Tiến sĩ); ủy viên Ban biên tập (phần điện ảnh) Từ điển Bách khoa Việt Nam; được phong hàm Phó Giáo sư năm 1992.

Do công lao xuất sắc trên nhiều lĩnh vực, Bành Bảo đã được tặng nhiều giải thưởng và danh hiệu, huân, huy chương và kỷ niệm chương, v.v…, đặc biệt trong đó có Huy hiệu của Hồ Chủ tịch khi ông được bầu làm chiến sĩ thi đua văn hóa tỉnh Bắc Ninh (1952), Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhì, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huy chương Vì sự nghiệp Điện ảnh Việt Nam, v.v…

Vào một ngày nắng nóng của tháng 7 năm 1997, Phó Giáo sư, nhà báo, nhà biên kịch và dịch giả Bành Bảo đã ra đi, sau một thời gian lâm bệnh nặng. Tiễn đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng, có đông đảo người thân, bạn bè, cộng sự và cả những học trò ở khắp mọi nơi. Và dường như chỉ đến lúc ấy, người ta mới hiểu thêm những đóng góp, cống hiến và thành tựu của Bành Bảo đối với từng lĩnh vực công tác của ông là như thế nào. Vì thế, những trang viết, trang đời của Bành Bảo chắc chắn sẽ còn lại lâu bền trong tâm trí chúng ta, cũng như đối với người đọc, người xem và cả nền điện ảnh Cách mạng Việt Nam, không dễ gì bị lãng quên.

Nguyễn Hậu

 

Facebook Comments